5 1 Votes

Tên các hội chứng sợ hãi trong tiếng Anh

Hội chứng sợ hãi, hay ám ảnh sợ hãi (tiếng Anh: phobia, xuất phát từ tiếng Hy Lạp: Phobos φόβος) là một loại rối loạn lo âu, thường được định nghĩa như là nỗi sợ hãi dai dẳng đối với một đối tượng hoặc một tình huống nào đó mà người mắc phải luôn cố gắng tránh né. Những nỗi sợ này thường không liên quan đến sự nguy hiểm trong thực tế. Trong trường hợp ám ảnh sợ hãi không thể tránh được hoàn toàn, người bệnh sẽ phải chịu đựng với sự căng thẳng rõ rệt, gây ra ảnh hưởng xấu đáng kể đến các hoạt động xã hội hoặc nghề nghiệp.

Có những nỗi sợ nghe tên thì khá kì lạ và khó hiểu nhưng lại vô cùng phổ biến. Hãy cùng đọc bài viết dưới đây để xem bạn có mắc phải hội chứng sợ hãi nào không nhé!

 

1. Nyctohylophobia – sợ bóng tối



Không có nhiều thông tin về Nyctohylophobia. Chính xác hơn Nyctohylophobia là "the fear of dark wooded places or of forests at night" (nỗi sợ đối với những nơi cây cối rậm rạp, tối tăm hay các khu rừng vào buổi đêm).

Trên thực tế, sợ bóng tối là một trong những chứng sợ hãi phổ biến nhất ở trẻ em. Giáo sư Thomas Ollendick - chuyên gia tâm lý học, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Trẻ em Virginia (Mỹ) cho biết: “Trẻ em thường tin vào những thứ chúng tưởng tượng ra trong bóng tối, như bị bắt cóc, bị lấy mất đồ chơi…”. Những sự sợ hãi này sẽ khiến trẻ cảm thấy lo lắng và dần phát triển thành chứng sợ hãi. Nếu không được điều trị, chứng sợ bóng tối vẫn tồn tại khi trẻ lớn lên.

 

2. Atychiphobia – sợ thất bại
 



Được định nghĩa là “the abnormal, unwarranted, and persistent fear of failure“ (nỗi sợ bất thường, không rõ ràng và dai dẳng về sự thất bại). Abnormal là bất thường, còn unwarranted là không có lý do xác đáng. Biểu hiện của người bị bệnh này là họ căng thẳng và sợ đến nỗi không dám liều lĩnh, bằng cách tự đánh giá thấp bản thân – undermine himself.

 

3. Arachnophobia – sợ nhện
 



Những chữ -phobia thường dài và đòi hỏi người đọc phải biết danh từ đứng phía trước nó là gì. Spider là con nhện theo cách gọi thông thường, nhưng giới khoa học sẽ gọi Arachnid – loài nhện (cho nên nếu bạn thấy một chữ có dạng Arachno_xyz_ thì biết ngay đó là tên khoa học của một loài nhện nào đấy). Từ này cũng xuất phát từ tiếng Hy Lạp là aráchnē. Có hai thứ được cho là nguyên nhân của nỗi sợ này, đó là tiến hoá (evolution) và văn hoá (culture). Nguyên nhân từ tiến hoá dễ hiểu khi ta thường cho rằng nhện, rắn hay các con vật có màu sặc sỡ là có độc (venomous). Nguyên nhân từ văn hoá cho rằng Arachnohobia không có thật, đó là do trí tưởng tượng cùng việc nghe kể lại mà thôi.

 

4. Acrophobia – sợ độ cao



Chữ Acro có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp ákron có nghĩa là “peak, summit, edge“. Nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng acrophobia là một bản năng – instinct – của con người và cả động vật. Người ta thử nghiệm bằng cách cho trẻ sơ sinh – infants và trẻ mới chập chững biết đi – toddlers, cùng với nhiều loài động vật khác bước lên một tấm sàn bằng kính trong suốt. Kết quả cho thấy đối tượng thí nghiệm đều do dự (reluctant) không dám bước lên tấm kính.

 

5. Hippopotomonstrosesquippedaliophobia – Nỗi sợ những chữ dài



Đây quả là nỗi sợ khá kỳ quặc, và ngay bản thân cái tên của nó cũng đã rất kỳ quặc rồi.

 

6. Claustrophobia – sợ nơi chật hẹp / không gian kín



Hay chính xác hơn là sợ bị nhốt lại ở một nơi không lối thoát, dù sáng hay tối. Bắt nguồn từ tiếng Latin claustrum nghĩa là “a shut in place“, Claustrophobia là “the fear of having no escape and being in closed or small spaces or rooms“ (sợ hãi vì không tìm thấy lối thoát, hoặc bị nhốt trong 1 không gian hay căn phòng kín và nhỏ hẹp). Có giả thuyết cho rằng Claustrophobia bao gồm hai nỗi sợ: sợ bị giới hạn – restriction và sợ ngạt – suffocation. Nơi chật hẹp thì tuỳ người mà sẽ đa dạng khác nhau, ví dụ như các căn phòng nhỏ, phòng bị khóa, trong xe ô tô / máy bay / tàu hỏa, thang máy, hang động…
Trái nghịch với Claustrophobia là Agoraphobia – nỗi sợ nơi rộng rãi, thoáng đãng.

 

7. Obesophobia – sợ béo phì



Nỗi sợ của hầu hết phụ nữ. Các bạn dễ dàng nhận ra chữ Obeso gần giống với chữ Obese – béo phì. Đây là từ gốc Hy Lạp có nghĩa là “fat“. Những người bị bệnh này “fear of gaining weight, particularly in cultures that value thinness“ (sợ bị tăng cân, đặc biệt là ở các nền văn hóa coi trọng thân hình mảnh mai).

 

8. Thanatophobia – sợ chết



Nỗi sợ này chắc chắn ai cũng có, không phải giải thích nhiều. Có một từ hay bị nhầm lẫn là Necrophobia – sợ những thứ đã chết (skeleton, corpse) còn Thanatophobia là sợ cái chết (đến với bản thân)

 

9. Pyrophobia – sợ lửa



Tiền tố Pyro- (tiếng Latin là lửa) cũng xuất hiện trong nhiều chữ khác. Ví dụ đối nghịch với Pyrophobia là Pyromania nghĩa là người cuồng lửa, thích đốt lửa, thích ngắm lửa. Pyrotechnics là ngành nghiên cứu kiên quan tới lửa, chất đốt, thuốc nổ. Đương nhiên lửa thì ai cũng sợ, nhưng bệnh lý Pyrophobia ám chỉ những người sợ cả những thứ nhỏ nhặt như hộp quẹt, bếp ga, lửa trại.

 

10. Coulrophobia – sợ những chú hề


Bạn không hề đọc nhầm đâu. Trên thế giới có rất nhiều người, nhất là trẻ em sợ những chú hề. Nguyên nhân có thể bắt nguồn từ việc các bộ phim kinh dị khai thác hình ảnh này, hoặc đôi khi chẳng do nguyên nhân gì cả. Một cuộc khảo sát bởi University of Sheffield cho thấy trẻ em không thích trang trí chú hề trong bệnh viện.

 

11. Trypanophobia - Sợ bị chích hoặc kim tiêm



Sợ kim tiêm là biểu hiện của sự sợ bệnh viện hay các vật nhọn nói chung. Chứng sợ hãi này có thể dẫn đến các phản ứng sinh lý nghiêm trọng như tụt huyết áp, ngất xỉu… Trong một vài trường hợp, khi chứng bệnh này trở nên nặng hơn có thể khiến bệnh nhân né tránh mọi vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe

 

12. Astraphobia - Sợ sấm sét



Những tiếng nổ inh tai của sấm hay vệt sáng lóa của tia chớp có thể khiến một số người thót tim và toát mồ hôi. Người bị chứng sợ sấm sét thường chọn sống ở những vùng có thời tiết ôn hòa, ít xảy ra sấm chớp. Họ cũng có xu hướng đối phó với nỗi sợ hãi này bằng cách tìm kiếm “nơi trú ẩn”, bảo vệ bản thân ở nơi không có cửa sổ, không thể nhìn thấy cơn bão.

Để điều trị chứng sợ sấm sét, bệnh nhân cần được hỗ trợ từ những người xung quanh. Họ cần được giải thích rõ về bản chất của hiện tượng sấm sét. Ngoài ra, những người này cũng cần kiên trì tập luyện khả năng đối mặt với sự sợ hãi.

 

13. Nosophobia - Sợ bị bệnh



“Bệnh tưởng” là một rối loạn có liên quan đến sự sợ hãi dai dẳng về việc mắc một căn bệnh không rõ nào đó. Những người bị rối loạn này có thể trở thành “khách hàng” thường xuyên của bác sĩ, hoặc ngược lại tránh né việc khám bệnh vì sợ nghe tin xấu. “Hội chứng sinh viên y khoa” và “khám bệnh qua mạng” là những dạng cơ bản của chứng sợ bị bệnh. Khi đó người mắc chứng rối loạn này sẽ tích cực nghiên cứu một căn bệnh nào đó và sau đó bắt đầu tin rằng mình có những triệu chứng của bệnh đó.

 

14. Mysophobia AKA Germophobia - Sợ vi trùng



Chứng sợ vi trùng là sự sợ hãi dữ dội về việc bị nhiễm bệnh do vi trùng. Nó liên quan đến chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế, mà biểu hiện đặc trưng nhất là việc rửa tay quá nhiều. Những người mắc bệnh này thường cho rằng, tay luôn dơ bẩn và cần phải thường xuyên rửa tay để “gột sạch” vi trùng.

 

15. Triskaidekaphobia - Sợ số 13



Có một số tranh cãi về nỗi sợ số 13. Nhiều chuyên gia xem nó như một sự mê tín dị đoan hơn là một nỗi sợ hãi thực sự. Mặc dù vậy, chứng sợ số 13 rất phổ biến trong văn hóa phương Tây và nó đã thực sự thể hiện sự ảnh hưởng mạnh mẽ của mình. Ví dụ, nhiều người không chịu sống trong ngôi nhà có số nhà là 13 hay máy bay bỏ qua hàng ghế thứ 13…

Ngoài ra còn rất nhiều loại hội chứng sợ hãi (phobia) khác như: Batophobia (Sợ nhà cao tầng), Spectrophobia (Sợ nhìn vào gương), Melissophobia (Sợ ong), Homophobia (Sợ đồng tính), Phasmophobia (Sợ ma), Socialphobia (Sợ xã hội), Philophobia (Sợ yêu thương), Hemophobia (Sợ máu),…



Đánh giá

Bài viết tương tự

Ý kiến bạn đọc

Luyện nói trực tiếp

Chủ đề: Cambridge Movers- lesson 32

10/29/2018 1:00:00 PM Tham gia

Chủ đề: Cambridge Movers- lesson 31

10/22/2018 1:00:00 PM Tham gia

Chủ đề: Cambridge Movers- lesson 30

10/15/2018 1:00:00 PM Tham gia
Chủ đề hot