Trình độ: Advance

5 3 Votes

“Jazz Messenger” – Haruki Murakami

Haruki Murakami at his jazz bar, Peter Cat, in Sendagaya, Tokyo, 1978

Nguồn: Haruki Murakami, “Jazz Messenger,” The New York Times, Jul. 8, 2007.
Nguyễn Huy Hoàng dịch.

I never had any intention of becoming a novelist — at least not until I turned 29. This is absolutely true.

Tôi chưa từng có ý định trở thành tiểu thuyết gia – ít nhất là cho đến năm tôi bước sang tuổi 29. Thật sự là thế.

I read a lot from the time I was a little kid, and I got so deeply into the worlds of the novels I was reading that it would be a lie if I said I never felt like writing anything. But I never believed I had the talent to write fiction. In my teens I loved writers like Dostoyevsky, Kafka and Balzac, but I never imagined I could write anything that would measure up to the works they left us. And so, at an early age, I simply gave up any hope of writing fiction. I would continue to read books as a hobby, I decided, and look elsewhere for a way to make a living.

Tôi đã đọc rất nhiều từ khi còn bé, và tôi đắm chìm trong thế giới tiểu thuyết đến nỗi sẽ là lừa dối nếu tôi nói mình chưa bao giờ mong viết ra được thứ gì đó. Nhưng chẳng bao giờ tôi tin mình có đủ tài năng để viết tiểu thuyết. Thời niên thiếu tôi yêu các nhà văn như [Fyodor] Dostoyevsky, [Franz] Kafka và [Honoré de] Balzac, nhưng tôi chưa từng hình dung mình có thể viết ra bất cứ thứ gì đạt đến cái tầm của những tác phẩm mà họ để lại cho chúng ta. Và vì thế, ngay từ nhỏ, tôi chỉ đơn giản là từ bỏ mọi hy vọng viết lách. Tôi sẽ tiếp tục đọc sách như một thú vui, tôi quyết định thế, và tìm đâu đó cách khác để kiếm sống.

The professional area I settled on was music. I worked hard, saved my money, borrowed a lot from friends and relatives, and shortly after leaving the university I opened a little jazz club in Tokyo. We served coffee in the daytime and drinks at night. We also served a few simple dishes. We had records playing constantly, and young musicians performing live jazz on weekends. I kept this up for seven years. Why? For one simple reason: It enabled me to listen to jazz from morning to night.

Lĩnh vực nghề nghiệp mà tôi chọn là âm nhạc. Tôi chăm chỉ làm việc, tiết kiệm, vay mượn rất nhiều từ bạn bè và họ hàng, và ngay sau khi rời trường đại học tôi mở một câu lạc bộ nhạc jazz ở Tokyo. Chúng tôi phục vụ cà phê vào ban ngày còn đêm là rượu. Chúng tôi cũng có một số đồ ăn nhẹ. Chúng tôi mở băng nhạc liên tục và có những nghệ sĩ trẻ đến chơi nhạc jazz sống mỗi cuối tuần. Tôi duy trì nơi này bảy năm. Tại sao? Vì một lý do đơn giản: Nó giúp tôi được nghe jazz từ sáng tới tối.

I had my first encounter with jazz in 1964 when I was 15. Art Blakey and the Jazz Messengers performed in Kobe in January that year, and I got a ticket for a birthday present. This was the first time I really listened to jazz, and it bowled me over. I was thunderstruck. The band was just great: Wayne Shorter on tenor sax, Freddie Hubbard on trumpet, Curtis Fuller on trombone and Art Blakey in the lead with his solid, imaginative drumming. I think it was one of the strongest units in jazz history. I had never heard such amazing music, and I was hooked.

Lần đầu tôi được tiếp xúc với jazz là vào năm 1964, khi đó tôi 15 tuổi. Tay trống Art Blakey và nhóm Jazz Messengers có buổi biểu diễn ở Kobe tháng 1 năm ấy, và chiếc vé là món quà sinh nhật của tôi. Đó là lần đầu tiên tôi thực sự lắng nghe jazz, và nó khiến tôi sửng sốt. Tôi bị sét đánh. Ban nhạc quá tuyệt: Wayne Shorter chơi tenor sax, Freddie Hubbard chơi trumpet, Curtis Fuller chơi trombone và nhóm trưởng Art Blakey với tiếng trống chắc, đầy hình ảnh. Tôi nghĩ họ là một trong những ban nhạc mạnh mẽ nhất trong lịch sử nhạc jazz. Tôi chưa từng được nghe một thứ âm nhạc tuyệt vời đến thế, và tôi đã nghiện.

A year ago in Boston I had dinner with the Panamanian jazz pianist Danilo Pérez, and when I told him this story, he pulled out his cellphone and asked me, “Would you like to talk to Wayne, Haruki?” “Of course,” I said, practically at a loss for words. He called Wayne Shorter in Florida and handed me the phone. Basically what I said to him was that I had never heard such amazing music before or since. Life is so strange, you never know what’s going to happen. Here I was, 42 years later, writing novels, living in Boston and talking to Wayne Shorter on a cellphone. I never could have imagined it.

Một năm trước ở Boston, tôi có ngồi ăn tối với nghệ sĩ piano jazz người Panama Danilo Pérez, và khi tôi kể lại câu chuyện trên, anh ấy rút điện thoại ra rồi hỏi: “Anh có muốn nói chuyện với Wayne không, Haruki?” “Tất nhiên,” tôi lúng búng đáp. Pérez gọi cho Wayne Shorter lúc ấy đang ở Florida và đưa tôi cái điện thoại. Tôi nói với ông đại loại rằng tôi chưa bao giờ được nghe thứ âm nhạc tuyệt vời đến thế trước đó hay cả sau này. Cuộc sống thật lạ, ta chẳng bao giờ biết điều gì sẽ xảy ra. Giờ tôi đây, 42 năm sau, viết tiểu thuyết, sống ở Boston và trò chuyện với Wayne Shorter qua điện thoại. Tôi chưa bao giờ tưởng tượng nổi điều đó.

When I turned 29, all of a sudden out of nowhere I got this feeling that I wanted to write a novel — that I could do it. I couldn’t write anything that measured up to Dostoyevsky or Balzac, of course, but I told myself it didn’t matter. I didn’t have to become a literary giant. Still, I had no idea how to go about writing a novel or what to write about. I had absolutely no experience, after all, and no ready-made style at my disposal. I didn’t know anyone who could teach me how to do it, or even friends I could talk with about literature. My only thought at that point was how wonderful it would be if I could write like playing an instrument.

Khi bước sang tuổi 29, đột nhiên tôi có cảm giác rằng tôi muốn viết một cuốn tiểu thuyết — rằng tôi có thể làm được điều đó. Tôi sẽ không thể viết thứ gì có thể so được với Balzac hay Dostoyevsky, dĩ nhiên, nhưng tôi tự nhủ điều đó không quan trọng. Tôi đâu phải trở thành một người khổng lồ trong văn học. Nhưng tôi vẫn chưa biết sẽ phải viết như thế nào hay viết về cái gì. Nói cho cùng, tôi hoàn toàn không có kinh nghiệm, cũng không có văn phong sẵn theo ý muốn. Tôi không biết có ai có thể dạy tôi điều đó, không có cả bạn bè mà tôi có thể nói chuyện về văn chương. Ý nghĩ duy nhất của tôi lúc đó là nếu tôi có thể viết như mình đang chơi một nhạc cụ thì sẽ thật tuyệt.

I had practiced the piano as a kid, and I could read enough music to pick out a simple melody, but I didn’t have the kind of technique it takes to become a professional musician. Inside my head, though, I did often feel as though something like my own music was swirling around in a rich, strong surge. I wondered if it might be possible for me to transfer that music into writing. That was how my style got started.

Tôi từng tập piano khi còn bé, và có thể đọc nhạc đủ để chơi một giai điệu đơn giản, nhưng tôi không có đủ kỹ năng cần thiết để trở thành một nhạc sĩ chuyên nghiệp. Dù thế, trong đầu, tôi luôn cảm thấy như thể âm nhạc của riêng tôi đang cuộn lên thành một con sóng mạnh mẽ. Tôi tự hỏi liệu mình có thể chuyển thứ âm nhạc đó sang viết lách hay không. Phong cách của tôi bắt đầu như thế.

Whether in music or in fiction, the most basic thing is rhythm. Your style needs to have good, natural, steady rhythm, or people won’t keep reading your work. I learned the importance of rhythm from music — and mainly from jazz. Next comes melody — which, in literature, means the appropriate arrangement of the words to match the rhythm. If the way the words fit the rhythm is smooth and beautiful, you can’t ask for anything more. Next is harmony — the internal mental sounds that support the words. Then comes the part I like best: free improvisation. Through some special channel, the story comes welling out freely from inside. All I have to do is get into the flow. Finally comes what may be the most important thing: that high you experience upon completing a work — upon ending your “performance” and feeling you have succeeded in reaching a place that is new and meaningful. And if all goes well, you get to share that sense of elevation with your readers (your audience). That is a marvelous culmination that can be achieved in no other way.

Dù trong âm nhạc hay trong văn chương, thứ cơ bản nhất vẫn là nhịp điệu. Phong cách của anh cần có nhịp điệu hay, tự nhiên, ổn định, hoặc không mọi người sẽ chẳng đọc tiếp. Tôi học được tầm quan trọng của nhịp điệu từ âm nhạc — và chủ yếu là từ jazz. Tiếp đến là giai điệu — trong văn học có nghĩa là cách sắp xếp từ ngữ sao cho khớp với nhịp điệu. Nếu từ ngữ khớp với nhịp điệu một cách nhịp nhàng và đẹp đẽ, anh chẳng thể đòi hỏi gì hơn. Tiếp theo là hòa âm — những âm thanh tinh thần bên trong hỗ trợ cho từ ngữ. Rồi đến phần tôi thích nhất: ngẫu hứng tự do. Qua một số kênh đặc biệt, câu chuyện tự khắc tuôn trào từ bên trong. Tất cả những gì tôi cần làm là thả mình vào dòng chảy đó. Cuối cùng và có thể là phần quan trọng nhất: cảm giác hưng phấn anh được trải nghiệm khi hoàn thành một tác phẩm — khi kết thúc một “màn trình diễn” và cảm giác anh đã thành công trong việc đạt tới một vị trí mới mẻ và ý nghĩa. Và nếu mọi chuyện suôn sẻ, anh có thể chia sẻ cảm giác phấn khích đó tới độc giả (thính giả) của mình. Đó là đỉnh điểm diệu kỳ mà không tài nào đạt được bằng cách nào khác.

Practically everything I know about writing, then, I learned from music. It may sound paradoxical to say so, but if I had not been so obsessed with music, I might not have become a novelist. Even now, almost 30 years later, I continue to learn a great deal about writing from good music. My style is as deeply influenced by Charlie Parker’s repeated freewheeling riffs, say, as by F. Scott Fitzgerald’s elegantly flowing prose. And I still take the quality of continual self-renewal in Miles Davis’s music as a literary model.

Thực ra mọi điều tôi biết về viết lách khi đó tôi đều học được từ âm nhạc. Nghe có vẻ nghịch lý khi nói như vậy, nhưng nếu tôi không bị ám ảnh với âm nhạc đến thế thì có lẽ tôi đã không trở thành một tiểu thuyết gia. Ngay cả bây giờ, sau gần 30 năm, tôi vẫn tiếp tục học hỏi được rất nhiều cho cách viết từ âm nhạc. Phong cách của tôi chịu ảnh hưởng sâu sắc của các điệp khúc tự do của Charlie Parker, cũng như của nhịp văn thanh nhã của F. Scott Fitzgerald. Và tôi vẫn xem đặc tính tự đổi mới liên tục trong âm nhạc của Miles David là một mô hình văn chương.

One of my all-time favorite jazz pianists is Thelonious Monk. Once, when someone asked him how he managed to get a certain special sound out of the piano, Monk pointed to the keyboard and said: “It can’t be any new note. When you look at the keyboard, all the notes are there already. But if you mean a note enough, it will sound different. You got to pick the notes you really mean!”

Một trong số những nhạc sĩ piano jazz yêu thích nhất của tôi là Thelonious Monk. Một lần khi được hỏi làm thế nào ông có thể khiến chiếc piano bật ra những âm thanh đặc biệt nhất định, Monk chỉ vào những phím đàn và nói: “Nó không thể tạo thêm nốt mới. Khi anh nhìn vào bàn phím này, mọi nốt nhạc đã ở sẵn đó. Nhưng nếu anh truyền cho nó một ý nghĩa, nó sẽ ngân lên mỗi khác. Anh phải chọn những nốt anh thực sự muốn nói!”

I often recall these words when I am writing, and I think to myself, “It’s true. There aren’t any new words. Our job is to give new meanings and special overtones to absolutely ordinary words.” I find the thought reassuring. It means that vast, unknown stretches still lie before us, fertile territories just waiting for us to cultivate them.

Tôi thường nhớ lại những lời này mỗi khi đang viết, và tôi tự nhủ, “Đúng thế. Không có từ nào mới. Công việc của chúng ta là đem lại ý nghĩa mới và âm bội đặc biệt cho những từ ngữ hết sức thông thường.” Tôi thấy yên lòng với suy nghĩ này. Nó cho thấy những khoảnhg không rộng mở, chưa được biết tới vẫn còn nằm phía trước chúng ta, những mảnh đất phì nhiêu đang chờ được canh tác.

Bản dịch © 2015 Nguyễn Huy Hoàng



Đánh giá

Bài viết tương tự

Ý kiến bạn đọc

Luyện nói trực tiếp

Chủ đề: Cambridge Flyers lesson 8

5/24/2018 1:00:00 PM Tham gia

Chủ đề: Cambridge Movers- lesson 10

5/14/2018 1:00:00 PM Tham gia

Chủ đề: Cambridge Movers- lesson 9

5/10/2018 1:00:00 PM Tham gia
Chủ đề hot