Trình độ: Advance

5 3 Votes

Điểm sách "Qatar: Small State, Big Politics”

Nguồn: Sultan Barakat. Review of Kamrava, Mehran. Qatar: Small State, Big PoliticsH-Diplo, H-Net Reviews.

Mehran Kamrava. Qatar: Small State, Big Politics. Ithaca: Cornell University Press, 2013. 232 pp. $35.00 (cloth), ISBN 978-0-8014-5209-3.

Qatar’s emergence in the international limelight over the past few years signals its remarkable transformation from a sleepy Gulf peninsula to a regional superpower. Through high-profile foreign investments, mega infrastructural projects, humanitarian and charitable action, proactive mediation of conflicts including Lebanon and Gaza, sponsorship of the Al Jazeera network, and sporting and cultural activities epitomized by winning the rights to host the 2022 World Cup, Qatar has sought to project a brand image of a modern, progressive, and powerful state. The narrative of Qatar’s rise to prominence has been the subject of increasing media interest yet until now has received very little book-length academic analysis. Mehran Kamrava’s Qatar: Small State, Big Politics is notable for offering the most sustained analysis to date of Qatar’s unique position and its significance for regional and global politics.

Sự xuất hiện nổi bật của Qatar trên sân khấu quốc tế trong những năm qua là dấu hiệu của nét chuyển biến lớn từ một quốc gia vùng Vịnh thiếu sức sống sang một siêu cường khu vực. Thông qua các khoản đầu tư nước ngoài cao cấp, các dự án hạ tầng khổng lồ, các hoạt động nhân đạo và từ thiện, chủ động hòa giải các cuộc xung đột bao gồm cả Lebanon và Gaza, tài trợ cho kênh truyền thông Al Jazeera, và các hoạt động văn hóa và thể thao, điển hình là qua việc giành quyền đăng cai World Cup 2022, Qatar đã tìm cách truyền bá hình ảnh thương hiệu về một nhà nước hiện đại, tiến bộ, và mạnh mẽ. Câu chuyện về sự trỗi dậy của Qatar là chủ đề được các phương tiện truyền thông ngày một quan tâm dù cho đến nay nó mới chỉ nhận được rất ít phân tích học thuật mang tầm của một cuốn sách. Cuốn Qatar: Đất nước nhỏ, Nền chính trị lớn của Mehran Kamrava nổi bật hẳn lên qua việc đưa ra các phân tích một cách có hệ thống nhất cho đến nay về vị trí độc tôn của Qatar và ý nghĩa của nó đối với nền chính trị khu vực và toàn cầu.

The opening chapter provides the context that enabled Qatar’s emergence as a heavyweight power in the Middle East. Crucial to the argument is that the traditional regional big powers, such as Egypt, Iraq, Syria, and Iran, have declined in significance, in particular since the Gulf War, while power has shifted toward the Gulf states due to their vast energy reserves and financial resources and the increasing importance of money in the exercise of power. Furthermore, helped by its internal stability, the author argues that while the above mentioned states have experienced crises over the past few years, Qatar has rode the storm of the “Arab Spring” and is well placed to pursue proactive policies. It is argued that Qatar possesses four comparative advantages over its Gulf Cooperation Council (GCC) neighbors that provide conditions ripe for its playing a major global role: 1) the above noted changing regional and international landscape with the decline of traditional power centers coupled with Qatar’s strategic importance to the United States; 2) the high degree of state autonomy possessed by a small cohesive elite network coalesced around an ambitious vision; 3) the absence of internal fragmentation in terms of sectarian or ethnic divides that afflict Bahrain and Saudi Arabia; and 4) the vast financial resources available, even compared to the rich yet constrained GCC states, which enables the maintenance of patronage even in economic downturns and thus shelters the state from contestation. This mixture of factors is argued to have enabled the Qatari state to embark on ambitious domestic transformation and foreign policy projects that are analyzed in the subsequent chapters.

Chương mở đầu đặt ra bối cảnh đã cho phép Qatar nổi lên như một cường quốc nặng ký ở Trung Đông. Lập luận chính yếu là các cường quốc truyền thống trong khu vực như Ai Cập, Iraq, Syria, và Iran đã dần mất đi tầm quan trọng, nhất là sau Chiến tranh vùng Vịnh, trong khi quyền lực chuyển dịch hướng đến các quốc gia vùng Vịnh do nguồn lực tài chính và nguồn dự trữ năng lượng khổng lồ của họ cũng như tầm quan trọng ngày càng tăng của tiền bạc trong việc thực thi quyền lực. Hơn nữa, nhờ có sự ổn định nội bộ, tác giả lập luận rằng trong khi trong những năm qua các quốc gia trên phải hứng chịu các cuộc khủng hoảng thì Qatar lại vượt qua được cơn bão “Mùa xuân Ả Rập” và có nhiều lợi thế để theo đuổi các chính sách chủ động. Tác giả cho rằng Qatar sở hữu bốn lợi thế so sánh so với các nước láng giềng thuộc Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC), cho nó những điều kiện chín muồi để có thể đảm nhận một vai trò toàn cầu quan trọng: 1) như trên đã ghi nhận sự thay đổi khung cảnh khu vực và quốc tế với sự suy giảm của các trung tâm quyền lực truyền thống kết hợp với tầm quan trọng chiến lược của Qatar đối với Hoa Kỳ; 2) mức độ tự chủ nhà nước cao dưới sở hữu của một mạng lưới tinh hoa nhỏ gắn kết có tầm nhìn đầy tham vọng; 3) không có sự phân rã bè phái nội bộ hay chia rẽ dân tộc như đã làm khổ sở Bahrain và Ả Rập Saudi; và 4) các nguồn lực tài chính khổng lồ sẵn có, thậm chí là so với các nước GCC giàu có nhưng bị hạn chế, đã cho phép duy trì sự bảo trợ kinh tế ngay cả trong thời kỳ suy thoái và do đó bảo vệ nhà nước khỏi các tranh chấp. Các yếu tố này kết hợp lại đã cho phép Qatar bắt tay vào các dự án cải cách trong nước và chính sách đối ngoại đầy tham vọng được phân tích trong các chương tiếp theo.

Small states are conventionally understood to play an insignificant role in international affairs, an assumption challenged in chapter 2, which begins with a theoretical analysis of the role of small states in foreign policy. Following this, Kamrava argues that varieties of power, primarily in its hard, soft, and smart forms, are insufficient to account for the influence wielded by Qatar. While it is clear that the country has negligible military power, relying on the presence of the al-Udeid U.S. military base, several analysts have recently framed Qatar’s rise in terms of soft power. Kamrava disagrees and argues instead that judged in terms of cultural influence and the desirability of Qatari values worldwide, the soft power of Qatar is minimal at best, despite the remarkable spread of Al Jazeera. Rather, in his words, “what Qatar has is a subtle form of power--a quiet, steadily accumulating type of power that has resulted from a combination of financial affluence, diplomatic activism, self-confident and cohesive leadership, effective self-advertizing, and a sense of indispensability to peace and stability when others busy themselves with conflicts” (p. 103). The concept of subtle power represents the most innovative contribution of the study and greatly advances the fast emerging literature on Qatar’s rise that has searched for a unified concept to describe the novelty and uniqueness of the country’s power resources.

Các quốc gia nhỏ thường được hiểu là đóng vai trò không đáng kể trong các vấn đề quốc tế, giả định này bị thách thức trong chương 2, bắt đầu bằng một phân tích lý thuyết về vai trò của các nước nhỏ trong chính sách đối ngoại. Sau đó, Kamrava lập luận rằng các dạng quyền lực, chủ yếu ở hình thức cứng, mềm, và thông minh, là không đủ để giải thích cho ảnh hưởng mà Qatar nắm giữ. Trong khi rõ ràng là Qatar có sức mạnh quân sự không đáng kể mà chỉ dựa vào sự hiện diện của các căn cứ quân sự al-Udeid của Mỹ, một số nhà phân tích lại đặt sự trỗi dậy Qatar trong bối cảnh của quyền lực mềm. Kamrava không đồng ý và thay vào đó lập luận rằng xét về mặt ảnh hưởng văn hóa và sức ảnh hưởng của các giá trị Qatar trên toàn thế giới, quyền lực mềm của Qatar là rất nhỏ, cho dù Al Jazeera đã vươn xa đáng kể. Đúng hơn là, như tác giả trình bày, “Thứ mà Qatar có là một hình thức quyền lực tinh tế – một hình thức quyền lực âm thầm dần tích tụ, bắt nguồn từ sự kết hợp giữa thịnh vượng tài chính, ngoại giao tích cực, nền lãnh đạo tự tin và gắn kết, tự quảng bá hiệu quả, và một chiều hướng hòa bình và ổn định tất yếu khi các quốc gia khác mắc mứu với xung đột” (tr. 103). Khái niệm quyền lực tinh tế thể hiện sự đóng góp nghiên cứu sáng tạo nhất và nâng cao đáng kể nguồn tài liệu về sự trỗi dậy của Qatar, vốn đang tìm kiếm một khái niệm thống nhất để mô tả tính mới lạ và độc đáo trong các nguồn gốc quyền lực của đất nước này.

Analysis of the various ways in which Qatar projects this subtle power on the global stage forms the subject of chapter 3. Firstly, due to various threats, in particular the proximity of Iran, concern with Qatar’s Shi’a minority, long-standing Saudi rivalry, and the reality of American power in the region, Qatar has embarked on an independent foreign policy in which ties are maintained with a wide variety of actors. Qatar is held to pursue a strategy of hedging, which refers to placing large bets one way, in cooperation with the United States, and smaller bets the other way, through maintaining cordial ties with Iran. Hedging is also manifested in the establishment of the Al Jazeera network, which has given Qatar a voice disproportionate to its size, and sponsorship of Islamist groups throughout the region and the Muslim Brotherhood in particular. A result of hedging, it is held that Qatar “has cultivated an image of evenhandedness and balance that few of the other states in the Middle East can claim to have” (p. 88). This is held to be an important source of power and an effective survival strategy that permits a flexible and adaptive approach to future crises in an unpredictable region.

Chủ đề của chương 3 là phân tích về cách Qatar triển khai quyền lực tinh tế trên trường quốc tế trên nhiều khía cạnh khác nhau. Thứ nhất, do các mối đe dọa khác nhau mà đặc biệt là quan hệ gần gũi với Iran, mối lo ngại với người Shi’a thiểu số ở Qatar, đối thủ từ lâu Ả Rập, và quyền lực của Mỹ trong khu vực, Qatar đã theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập, duy trì quan hệ với nhiều chủ thể quốc tế khác nhau. Qatar theo đuổi chiến lược phòng bị nước đôi, có nghĩa là đặt cược lớn vào một bên, thông qua hợp tác với Hoa Kỳ, và nhỏ hơn vào các bên khác, thông qua duy trì quan hệ mật thiết với Iran. Chiến lược phòng bị nước đôi cũng được thể hiện qua việc thành lập kênh truyền thông Al Jazeera, cho phép Qatar có tiếng nói lớn hơn nhiều so với kích thước của nó và được các nhóm Hồi giáo trên khắp khu vực nói chung và Huynh đệ Hồi giáo nói riêng tài trợ. Một trong những kết quả của chính sách phòng bị nước đôi là Qatar “đã tạo dựng một hình ảnh công tư và cân bằng mà rất ít các quốc gia khác ở Trung Đông có thể có” (tr. 88). Đây là một nguồn quyền lực quan trọng và là một chiến lược sinh tồn có hiệu quả, cho phép một cách tiếp cận thích ứng và linh hoạt với những cuộc khủng hoảng trong tương lai ở một khu vực khó có thể đoán trước.

Kamrava analyzes this concern with cultivation of Qatar’s image in terms of a strategy of state branding that is held to be central to the country’s power projection. This strategy has three main components: its ambitious sporting and cultural projects, including the Museum of Islamic Art, hosting of the 2006 Asian Games, and promotion of the Qatar Foundation, which all further an image of Qatar as a cultural leader; the Al Jazeera network, which promotes a brand of Qatar as an open and progressive Arab nation committed to dialogue and debate; and its hyperactive diplomacy in conflict mediation, which projects Qatar as a regional superpower with a neutral stance that is committed to peace. Overall the analysis offers a systematic and convincing treatment of Qatari foreign relations and policy. However, one shortcoming is that while it is recognized that Qatar offers a new and unique case, the analysis is guided largely by conventional international relations theory rather than more novel or fresh insights.

Kamrava phân tích mối quan tâm về việc tạo dựng hình ảnh của Qatar trong bối cảnh chiến lược xây dựng thương hiệu nhà nước là trọng tâm trong việc triển khai quyền lực của đất nước. Chiến lược gồm ba thành phần chính: các dự án văn hóa và thể thao đầy tham vọng, trong đó có Bảo tàng Nghệ thuật Hồi giáo, đăng cai Đại hội Thể thao Châu Á 2006, và xúc tiến tổ chức Quỹ Qatar, tất cả đều góp phần vào hình ảnh một quốc gia đi đầu trong lĩnh vực văn hóa của Qatar; kênh truyền thông Al Jazeera, thúc đẩy thương hiệu của Qatar như một quốc gia Ả Rập rộng mở và tiến bộ, cam kết đối thoại và tranh luận; và chính sách ngoại giao hiếu động trong hòa giải xung đột, thể hiện Qatar như một siêu cường khu vực với lập trường trung lập và cam kết hòa bình. Nhìn chung, phân tích của Kamrava đưa ra được một nghiên cứu thuyết phục và có hệ thống về quan hệ và chính sách đối ngoại của Qatar. Tuy nhiên, thiếu sót ở đây là trong khi thừa nhận rằng Qatar là một trường hợp mới và độc đáo, các phân tích chủ yếu dựa trên lý thuyết quan hệ quốc tế truyền thống thay vì những hiểu biết mới lạ hơn.

Qatar has been dubbed “the non-stop mediator” due to its role as a third-party mediator in Lebanon, Darfur, Gaza, Yemen, and other conflict settings, and while the book covers much material on the broad foreign policy approach that Qatar has followed, it contains relatively little on conflict mediation, which as noted above is addressed as a unique branding strategy. This is unfortunate because Qatar is unique in its approach to small-state mediation in that it combines the perceived neutrality often associated with small third party states with power mediation based on leverage through financial inducements, which is normally the preserve of “big” powers. The author provides analysis of Qatari conflict mediation elsewhere but greater inclusion of this material in the book would have enabled an integrated treatment of this important subject.[1]

Qatar được mệnh danh là “trung gian hòa giải không ngừng” do vai trò bên thứ ba trung gian hòa giải của nó trong các cuộc xung đột Lebanon, Darfur, Gaza, Yemen, vân vân, và trong khi cuốn sách cung cấp nhiều tài liệu về các chính sách đối ngoại rộng lớn mà Qatar theo đuổi, nó lại chứa tương đối ít thông tin về hòa giải xung đột mà như đã nói ở trên là một chiến lược xây dựng thương hiệu độc đáo. Điều này quả là đáng tiếc khi Qatar rất độc đáo trong phương pháp hòa giải các nhà nước nhỏ, trong đó nó kết hợp tính trung lập thường được cho là gắn liền với các nước nhỏ bên thứ ba với quyền lực hòa giải dựa trên đòn bẩy khích lệ tài chính thường đặc trưng cho các cường quốc “lớn.” Tác giả cũng phân tích về hòa giải xung đột của Qatar trong các tài liệu khác nhưng nếu đề cập chi tiết hơn thì cuốn sách sẽ có thể đưa ra một nghiên cứu tổng hợp về chủ đề quan trọng này.[1]

Chapter 4 addresses the domestic level of Qatari history, society, and politics. It begins by examining Qatar’s political history and then analyzes the factors enabling political consolidation and regime stability, in particular under the rule of Sheikh Hamad (1995-2013), the father of the current emir. Kamrava argues that Qatar’s stable political rule is grounded in its unmatched patronage that enables direct rent distribution thus tying social groups to the state; an agile strategy of balancing between advancing the emir’s vision of high modernity and sensitivity to Qatari traditions and cultural heritage; and the powerful security state that through its advanced means of social control, including widespread surveillance and cyber monitoring, is so highly effective that unpublicized visits from security officials are sufficient to quell any signs of dissent, there are no political prisoners, and the visible markers of the Mukhabarat state so commonplace in the region are notable in their absence. This account of Qatar’s internal stability addresses several major factors underlying the domestic transformation from a small poor country with a fractious royal family to an oil-rich cohesive state. However, since the power transition in mid-2013, the position of Interior minister has been assumed by the prime minister and the state has announced compulsory military service to bolster the standing army. These are signs that the new regime is more concerned with domestic threats and that Qatar’s long-term internal stability cannot be taken for granted.

Chương 4 giải quyết các vấn đề lịch sử, xã hội, và chính trị trong nước Qatar. Chương sách bắt đầu bằng cách khảo cứu lịch sử chính trị của Qatar và sau đó phân tích các nhân tố góp phần củng cố nền chính trị và sự ổn định của chế độ, đặc biệt là dưới chính quyền Sheikh Hamad (1995-2013), cha đẻ của tiểu vương hiện tại. Kamrava lập luận rằng nền tảng của chế độ chính trị ổn định của Qatar là sự bảo trợ chưa từng có của nhà nước cho phép phân phối lợi tức trực tiếp, và do đó gắn kết các nhóm xã hội với nhà nước; chiến lược cân bằng linh hoạt giữa việc thúc đẩy tầm nhìn mang tính hiện đại của tiểu vương và nhạy cảm với các truyền thống và di sản văn hóa của Qatar; và tình hình an ninh mạnh mẽ mà qua đó có thể thúc đẩy kiểm soát xã hội, bao gồm cả giám sát diện rộng và theo dõi mạng, có hiệu quả đến nỗi chỉ cần những chuyến thăm không công khai của các quan chức an ninh là đủ để dập tắt bất kỳ dấu hiệu của sự bất đồng nào, không có tù nhân chính trị, và sự thiếu vắng những dấu hiệu dễ thấy của lực lượng tình báo quốc gia như vốn phổ biến trong khu vực ở Qatar là rất đáng chú ý. Lý do của sự ổn định nội bộ của Qatar này đề cập đến một số yếu tố chính là nền tảng cho sự chuyển biến trong nước từ một đất nước nghèo nhỏ với hoàng tộc bất kham đến một quốc gia gắn kết và giàu có nhờ dầu lửa. Tuy nhiên, sau lần chuyển giao quyền lực hồi giữa năm 2013, vị trí Bộ trưởng Nội vụ được giao cho Thủ tướng Chính phủ đảm trách và nhà nước đã tuyên bố lệnh nhập ngũ bắt buộc để tăng cường đội quân thường trực. Đây là những dấu hiệu cho thấy chế độ mới quan tâm nhiều hơn tới các mối đe dọa trong nước và sự ổn định nội bộ lâu dài của Qatar không thể bị coi nhẹ.

In chapter 5, Kamrava argues that Qatar’s high capacity and autonomy make it a developmental state. Central to the argument is that Qatar possesses high-state capacity in implementing its vision of high modernity due to its vast financial clout and small cohesive elite. Furthermore, he argues that the Qatari state has a high degree of autonomy from social forces. Crucially, the argument follows Peter Evans’s concept of embedded autonomy (Embedded Autonomy: States and Industrial Transformation [1995]), that the developmental project of the state is embedded in dense mutually reinforcing state-social relations through its provision of capital to social groups, in particular merchants, technocrats, and the business-owning middle class. The account offered is convincing in so far as it is clear that non-state actors in Qatar share in the state’s vision and are integrated into the ruling structures through business ties. However, Kamrava quotes Evans who states that embedded social ties “‘provide channels for continual negotiation and renegotiation of goals and policies’” (p. 148). What is not demonstrated is how non-state social forces have any meaningful input into the state’s single-minded and top-down developmental vision that could approximate this condition of embedded autonomy. While Qatar may resemble a developmental state in some areas, including its high and sustained growth rate, commitment to education, and high capacity, it does not meet the criteria on other fronts, in particular the presence of a meritocratic bureaucracy. Moreover, there is tension between the classification of Qatar as both a rentier state and a developmental state with other cases of the latter notable for transforming patron-client relations. In particular, the high level of patronage has created an unmotivated workforce that is a bottleneck to filling positions with Qatari nationals and differs markedly from the productivity gains under developmental regimes elsewhere. Following the debate over the applicability of the developmental state concept outside of its East Asian progeny, it can be concluded that Qatar must represent a deviant or outlier case.

Trong chương 5, Kamrava cho rằng năng lực và tính tự chủ cao của Qatar đã khiến nó trở thành một đất nước phát triển. Trọng tâm của lập luận là Qatar sở hữu năng lực nhà nước cao trong việc thực hiện tầm nhìn về tính hiện đại cao nhờ vào ảnh hưởng tài chính rộng lớn cũng như giới tinh hoa nhỏ hẹp và gắn kết của nó. Hơn nữa, ông lập luận rằng Qatar có mức độ tự chủ cao so với các lực lượng xã hội. Quan trọng hơn, lập luận dựa theo khái niệm về tự chủ gắn kết của Peter Evans (Embedded Autonomy: States and Industrial Transformation [1995]), rằng các dự án phát triển của nhà nước được gắn kết trong các mối quan hệ dày đặc và củng cố lẫn nhau giữa nhà nước và xã hội thông qua việc tài trợ vốn cho các nhóm xã hội, đặc biệt là giới thương nhân, kỹ thuật, và tầng lớp trung lưu chủ doanh nghiệp. Lý do được đưa ra là thuyết phục trong chừng mực các nhân tố phi nhà nước ở Qatar nằm trong tầm nhìn của nhà nước và được gắn kết vào các cơ cấu cầm quyền thông qua các mối quan hệ kinh doanh. Tuy nhiên, Kamrava trích dẫn ý kiến của Evans cho rằng quan hệ xã hội gắn kết “‘cung cấp các kênh đàm phán và tái đàm phán liên tục về các mục tiêu và chính sách'” (tr. 148). Điều chưa được chứng minh là làm thế nào các lực lượng xã hội phi nhà nước có thể có tác động đáng kể vào tầm nhìn phát triển độc quyền và thống nhất của nhà nước vốn xấp xỉ điều kiện tự chủ gắn kết này. Trong khi Qatar có thể giống một nhà nước phát triển trong một số lĩnh vực, bao gồm tỷ lệ tăng trưởng cao và ổn định, cam kết giáo dục, và năng lực nhà nước cao, nó lại không đáp ứng được các tiêu chí trên các mặt khác, đặc biệt là sự hiện diện của một hệ thống hành chính trọng dụng nhân tài. Hơn nữa, có sự mâu thuẫn giữa cách phân loại Qatar vừa là nhà nước chủ tô vừa là nhà nước phát triển với các trường hợp khác của nhà nước phát triển, đáng chú ý cho việc biến đổi các mối quan hệ bảo trợ-được bảo trợ. Đặc biệt, mức độ bảo trợ cao đã tạo ra một lực lượng lao động không có động lực, một trở ngại với việc tìm việc làm cho công dân Qatar và khác biệt rõ rệt với việc tăng năng suất dưới các chế độ phát triển ở những nơi khác. Sau cuộc tranh luận về khả năng áp dụng khái niệm nhà nước phát triển bên cạnh những quốc gia Đông Á là kết quả của nó, có thể kết luận rằng Qatar chắc hẳn phải đại diện cho một trường hợp khác biệt hay còn sót lại.

In the final chapter, Kamrava analyzes the future prospects of the “Qatar model.” The book was published before the transition from Sheikh Hamad to Sheikh Tamim, a topic that has been subject to recent analysis. This is unfortunate in timing as it would be interesting to read about this remarkable development in a region where abdication by reigning monarchs is very rare. However, Kamrava does speculate about the possible impact of any future power transition on Qatar’s approach and trajectory. He argues that the benefits of a bold and proactive state branding strategy marked by high-profile projects and ambitious foreign policy that was pursued under Sheikh Hamad are likely to ensure that the next ruler will follow suit. By contrast, several analysts hold that the new young emir looks set to adopt a less ambitious strategy. The Financial Times holds that a “more consensual foreign policy” was expected under the new regime.[2] Whether the book’s prediction that Qatar’s innovative approach under Sheikh Hamad has become structural and will overcome the agency and personality of a future emir will be a development to watch out for over the coming months and years. Overall the book is a very strong, worthwhile, and intellectually rewarding contribution in an area of rapidly expanding interest, and comes highly recommended.

Trong chương cuối, Kamrava phân tích triển vọng tương lai của “mô hình Qatar.” Cuốn sách được xuất bản trước khi Sheikh Tamim kế vị Sheikh Hamad, một chủ đề đã được đưa ra phân tích gần đây. Đây là điều không may trong thời gian này bởi quả thật sẽ thú vị khi đọc về diễn biến nổi bật này trong một khu vực nơi mà việc các bậc quân vương thoái vị là rất hiếm. Tuy nhiên, Kamrava không suy đoán những tác động khả dĩ của bất kỳ sự chuyển giao quyền lực nào trong tương lai đối với cách tiếp cận và quỹ đạo của Qatar. Ông cho rằng những lợi ích của một chiến lược xây dựng thương hiệu nhà nước táo bạo và chủ động mà đặc trưng là các dự án cao cấp và chính sách ngoại giao đầy tham vọng từng được theo đuổi dưới thời Sheikh Hamad có khả năng đảm bảo rằng nhà lãnh đạo tiếp theo sẽ tiếp tục nối gót. Ngược lại, một số nhà phân tích cho rằng vị tiểu vương trẻ tuổi mới có vẻ sẽ áp dụng một chiến lược ít tham vọng hơn. Tờ Financial Times cho rằng một “chính sách đối ngoại đồng thuận hơn” đã được mong đợi dưới chế độ mới.[2] Dự đoán của cuốn sách rằng cách tiếp cận sáng tạo của Qatar dưới thời Sheikh Hamad đã trở thành cấu trúc và sẽ vượt qua các tác động và cá tính của tiểu vương trong tương lai sẽ là một bước tiến đáng theo dõi trong những năm tháng tới. 

[1]. Mehran Kamrava, “Mediation and Qatari Foreign Policy,” The Middle East Journal 65, no. 4 (2011): 539-556.

[2]. Simeon Kerr, “Qatar Set to Adopt a More Consensual Foreign Policy,” The Financial Times, September 24, 2013.



Đánh giá

Bài viết tương tự

Ý kiến bạn đọc

Luyện nói trực tiếp

Chủ đề: Oxford Discover 1 - My friend, Anak

10/25/2018 1:00:00 PM Tham gia

Chủ đề: IELTS Speaking - Advertisements

10/28/2018 8:00:00 AM Tham gia

Chủ đề: Pronunciation Basic - /ʌ/ and /ɑ:/

10/24/2018 1:00:00 PM Tham gia
Chủ đề hot